Tả Cảnh Ngụ Tình Trong Kiều Ở Lầu Ngưng Bích

     

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là bức tranh tâm trạng của Thúy kiều ở lầu Ngưng Bích, đây là một trong những đoạn văn miêu tả tâm trạng thành công nhất của nhân vật Thúy Kiều. Tác giả Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình để thể hiện tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

Bạn đang xem: Tả cảnh ngụ tình trong kiều ở lầu ngưng bích


“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

Đoạn trích có nhịp điệu nhẹ nhàng, miên man mang nỗi buồn phảng phất từ lòng người lan truyền thấm vào cảnh vật, rồi từ cảnh vật rồi xoáy vào lòng người. Hầu như không dòng nào, câu nào, hình ảnh âm thanh nào trong đoạn trích không ít nhiều thể hiện tâm trạng nhân vật. Tâm trạng bẽ bàng, buồn nhớ, lo lắng… khi Kiều một mình trước lầu Ngưng Bích.

“Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”

Bốn câu thơ trên là bức tranh thiên nhiên quanh lầu và cũng là bức tranh tâm trạng. Hoàn cảnh của kiều lúc này rất bung lung, bi thảm. Kiều được Tú bà cho ra ở lầu ngư bích nhưng thực chất là giam lỏng nàng.

Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng. Từ trên lầu cao Kiều ngóng vọng ra 4 phía bát ngát, dãy núi mờ xa những cồn cát vàng, trải dài chỉ có mảnh trăng gần ở chung. Những hình ảnh non xa, mà cũng có thể hình ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, hoang vắng, rộn ngợp không gian. Qua đó làm nổi bật hoàn cảnh tâm trạng bẽ bàng rộn ngợp của Kiều.

“Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”

Sớm sớm nhìn mây, đêm đêm đối diện với ngọn đèn cảnh người cùng thao thức sẻ chia biết nói cùng ai một mình với vầng trăng, người bạn gần gũi thân thiết nhất, vầng trăng sáng đã gợi Kiều nhớ về quá khứ:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”


Bơ vơ nơi góc bể chân trời vầng trăng, không chỉ là bạn mà còn là nguyên cớ gợi Kiều nhớ về Kim Trọng. Kiều xót xa, hình dung Kim Trọng vẫn chưa biết tin nàng đã bán mình mà vẫn ngày đêm mong ngóng tin tức chờ đợi mỏi mòn, Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn, xót xa tự dằn vặt. "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai" – nàng cho rằng mình bạc tình với Kim Trọng bội ước lời thề non hẹn biển, không giữ được lòng thủy chung. Bao nỗi dằn vặt, vò xé biết khi nào, bao giờ mới xóa mờ.

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

Tiếp đó Kiều nhớ đến cha mẹ, nhớ tới thân Kiều và xót. Nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần. Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu mà không tự tay chăm sóc và hiện thời ai người trông nom. Thành ngữ "Quạt nồng ấp lạnh", điển cố sân lai, gốc tử đều nói lên tâm trạng thương nhớ, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê hương tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất là cha mẹ mỗi ngày thêm già yếu. Cụm từ "cách mấy nắng mưa" vừa nói lên được sức mạnh tàn phá của tự nhiên, nắng mưa đối với cảnh vật và con người nỗi day dứt không phụng dưỡng được cha mẹ lúc tuổi già sức yếu thể hiện tấm lòng hiếu thảo của nàng. Vậy trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất nhưng nàng đã quên cảnh ngộ của bản thân mà nghĩ về người khác. Kiều là người tình thủy chung, người con hiếu thảo, người đáng kính trọng. Đoạn trích còn thể hiện nét đặc sắc độc đáo của nhà thơ khi thể hiện một cách khách quan:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

............

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Thiên nhiên biểu đạt nội tâm nhân vật, tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này. Mỗi điệp ngữ “buồn trông“ lại diễn tả một khung cảnh, một nỗi buồn cảnh ngộ khác nhau. Nỗi buồn cứ chồng chất như sóng xô dập ngập lòng Kiều.

“Buồn trông cửa biển lúc chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Phải chăng đó là hình bóng con người đơn độc lênh đênh vô định trên dòng đời. Nàng thấy sợ hãi và càng nhớ về quê hương mái ấm gia đình da diết.

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu"

Đây là câu thơ thể hiện đời Thúy Kiều, thân phận nàng chẳng khác nào cánh hoa dạt trôi, mưa dập gió vùi biết đi đâu về đâu trôi dạt nơi nào?

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Buồn cho ngọn cỏ mà nghĩ tới thân phận cỏ cây hoa hèn, chân mây mặt đất, góc bể chân trời đâu chốn lương thân, tâm trạng này khiến Kiều càng bi thương vô bờ.

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”


Sóng gió ầm ầm, ào ạt quanh ghế ngồi, cảm giác như tai họa đang ập đến bên cô. Mỗi câu mỗi vẻ, cảnh vật tâm trạng nỗi buồn ngày một lớn, mỗi lúc càng thêm chồng chất. Tất cả dồn tụ thành cao trào hòa cùng tiếng sóng đang xô đẩy dồn dập vào cuộc sống Kiều.

Xem thêm: Luyện Tập Trang 119 Giải Toán Lớp 5 Trang 119 Luyện Tập, Toán Lớp 5 Trang 119 Luyện Tập

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích miêu tả tâm trạng nhân vật kiều đặc sắc và thành công. Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình thể hiện tâm trạng của Kiều khi một mình cô đơn ở lầu Ngưng Bích.


*

Truyện Kiều – quốc hồn của văn học Việt Nam, tác phẩm duy nhất đủ khả năng đưa tiếng Việt lên một đỉnh cao mới trong văn học trung đại. Với cái tâm của một người nghệ sĩ có “con mắt nhìn suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”, ông đã tạo nên những trang văn thấm đẫm tinh thần nhân đạo và hiện thực sâu sắc. Cái đau, cái thương lẩn khuất trong hồn văn của ông, khiến mỗi dòng thơ Nguyễn Du viết ra đều như được chắt từ chính sự thống khổ của bản thân. Không chỉ thành công về mặt nội dung, truyện Kiều của Nguyễn Du còn đạt đến đỉnh cao hoàn mĩ của nghệ thuật, trong đó bút pháp đã làm nên một nhà thơ xuất sắc nhất của văn học thời kì trung đại, chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình, được sử dụng thành công đến mức độ trở thành chuẩn mực đánh giá đối với mọi nhà thơ, nhà văn khác.


*

Khát quát chung về bút pháp tả cảnh ngụ tình

Thẩm mỹ tả cảnh ngụ tình là một thi pháp quen thuộc trong văn học trung đại. Đặc trưng của văn học trung đại là sùng cổ, phi ngã và ước lệ. Ước lệ trong thơ văn trung đại đây chính là sử dụng hình ảnh tượng trưng để gợi tả nhưng chủ yếu là gợi nhiều hơn tả. Chính vì vậy những văn pháp được sử dụng chủ yếu trong văn học trung đại là văn pháp chấm phá, văn pháp đòn kích bẩy, văn pháp lấy động tả tĩnh, văn pháp lấy điểm tả diện,… nhưng trong đó nổi bật nhất phải nhắc đến văn pháp tả cảnh ngụ tình. Tả cảnh ngụ tình, tức là mượn cảnh để gửi gắm tâm trạng của nhân vật trữ tình, tuy trung tâm là tả cảnh thiên nhiên nhưng cảnh vật lại được quyết định bởi tâm trạng của người thưởng cảnh, qua đó, cảnh vật được nhìn qua con mắt của tình cảm, tâm lí chi phối hoàn cảnh bên ngoài. Đó là lí do vì sao thiên nhiên đột ngột trở nên có hồn và khi phân tích chúng, ta có thể thấy được nhân vật đang vui hay buồn.

Xuất phát từ đặc trưng của văn học trung đại, yêu thích sự tế nhị, cách nói vòng vo ước lệ, vai trò của cá nhân trong những tác phẩm mờ nhạt, họ không được phép tự nói lên tình cảm và suy nghĩ của mình, vì vậy, các nhà văn, nhà thơ văn học trung đại sử dụng nhiều bút pháp tả cảnh ngụ tình, để thông qua hình ảnh thiên nhiên, có thể thay người viết nói lên suy nghĩ của bản thân. Bút pháp này từ đó trở thành đặc trưng lớn của văn học trung đại, và Nguyễn Du là người đa rất thành công. Đây là bút pháp đòi hỏi sự dung hòa giữa cảnh thiên nhiên và tâm trạng của con người, sự khéo léo và tế vi phải đạt đến mức hoàn hảo mới đủ khả năng sử dụng bút pháp này.

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều

Nguyễn Du đã từng có những câu thơ:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Đây là những câu thơ thể hiện rất rõ quan điểm sáng tác của Nguyễn Du, đối với ông, thiên nhiên luôn được nhìn bằng con mắt của tâm trạng của không phải con mắt của trần thế. Cảnh được quyết định bởi người. Không quá khi cho rằng nghệ thuật tả cảnh trong tác phẩm truyện Kiều đã đạt đến mức xuất sắc, có những câu thơ đã được liệt kê là bất hủ bởi bút pháp tả cảnh ngụ tình không phải ai cũng làm được. Cũng giống như những nhà thơ đương thời, phong – hoa – tuyết – nguyệt là những hình ảnh thường xuyên được sử dụng trong các câu thơ của Nguyễn Du, Thiên nhiên trong “Truyện Kiều” rất đỗi quen thuộc với tâm hồn con người Việt Nam. Nhà thơ như một hoạ sĩ tài ba phối sắc, tạo hình, dựng cảnh đểu thán tình, đem đến cho người đọc nhiều rung cảm. Mùa xuân với “Cà non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Mùa hè với tiếng chim quyên và hoa lựu đỏ:

“Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.”

Ta quên sao được sự chuyển vần của bốn mùa trong nỗi buồn đau nặng trĩu lòng người:

“Sen tàn cúc lại nở hoa,

Sầu dài ngày ngẳn đông đã sang xuân

Bốn mùa xuân – hạ - thu – đông cũng là thi liệu được Nguyễn Du sử dụng rất nhiều. Có thể thấy điểm chung của những hình ảnh thiên nhiên mà nhà thơ sử dụng đều ít nhiều nhuốm màu tâm trạng, nhà thơ không bao giờ tả cảnh chỉ để tả cảnh mà bao giờ cũng hướng đến việc dự báo một sự việc gì đó sắp xảy ra, hoặc nhằm mục đích miêu tả tâm trạng, vì vậy, giữa mùa xuân đang rộn ràng ta vẫn thấy những câu thơ đột ngột chìm xuống:

Nao nao dòng nước uốn quanh,


Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Sè sè nấm đất bên đàng,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Thiên nhiên đột ngột nhuốm buồn, dự báo cho một cuộc gặp gỡ của hai con người có số phận tương đồng, trắc trở. Câu thơ vừa miêu tả cảnh vật buồn hiu hắt như tiếc thương cho hai số phận tài hoa bạc mạnh: Đạm Tiên – Thúy Kiều, báo hiệu trước một cuộc đời đầy sóng gió của Kiều. Từ láy “nao nao” được sử dụng thật đắc. Đó vừa là cái điệu chảy lững lờ êm trôi của làn nước nhỏ vừa là tâm trạng xốn xang nhuộm nỗi niềm đầy bâng khuâng, một nỗi buồn vô định thấm đẫm cả đất trời và cả lòng người. Cảnh vật vẫn thế vẫn là những đường nét thanh tao nhưng tâm trạng lòng người đã khác.

Đặc biệt, cảnh thiên nhiên luôn thể hiện tâm trạng của nhân vật, được thể hiện rất rõ trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích:

Buồn trông cửa biển chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ dầu dầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Cảnh vật truyền tải tâm trạng, từ nỗi buồn cô đơn đến sự lo lắng cho số phận và cuối cùng là sự thảng thốt dự báo về một tương lai đầy sóng gió. Tám câu thơ là một điệp khúc buồn được lặp lại qua sự thay đổi của từng cảnh vật. Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, từ màu nhạt đến màu đậm, âm thanh từ tĩnh đến động nỗi buồn cũng từ "man mác" đến lo sợ hãi hùng. Sự tăng tiến của hoàn cảnh ứng với sự thay đổi mạnh mẽ của tâm trạng, đây chính là bút pháp tả cảnh ngụ tình.

Cảnh vật đôi khi cũng rất thơ mộng khi nhân vật đang vui vẻ:

Bóng tà như giục cơn buồn

Khách đã lên ngựa, người còn nghề theo…

Rất tế nhị và thanh tao, cái giây phút rạo rực trái tim Kim – Kiều dự cảm một tình yêu đắm say chớm nở, khiến Nguyễn Du đồng cảm viết nên những vần thơ tình tuyệt bút. Cuộc chia tay trong hội Đạp thanh đâu dễ quên? Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du nâng cao cảm xúc nghệ thuật. Thời gian trôi nhanh, không gian trở nên trong sáng, tĩnh lặng, báo hiệu cho một tình yêu đang bắt đầu chớm nở giữa Kim Trọng và Thúy Kiều.

Xem thêm: Hướng Dẫn Giải Toán Lớp 6 Kết Nối Tri Thức, Cánh Diều, Chân Trời Sáng Tạo

Nhìn chung, cảnh vật của thiên nhiên bao giờ cũng nhuốm màu tâm trạng, với sự linh hoạt của ngòi bút, Nguyễn Du đã thành công diễn tả tâm trạng một cách vô cùng đặc sắc.